Thống Kê
Hiện có 1 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 1 Khách viếng thăm

Không

[ View the whole list ]


Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 19 người, vào ngày Sun Sep 10, 2017 8:21 pm
Đăng Nhập

Quên mật khẩu

Latest topics
» TẬP THƠ : TAN VỠ TÌNH ĐẦU !
by nguoitruongphu Mon Sep 30, 2019 9:54 am

» Những bản tình ca tiếng anh hay nhất [vietsub - lyrics - kara - effect]
by Thị Hến Sat Nov 10, 2018 10:26 pm

» 제이플라 J.Fla Cover Songs 2017 (Part 2)
by Thị Hến Sat Nov 10, 2018 10:25 pm

» Tinh Ve Noi Dau-Where Do We Go (Thanh Bui ft. Tata Young)
by Thị Hến Sat Nov 10, 2018 10:22 pm

» Ed Sheeran - Shape Of You ( cover by J.Fla )
by Thị Hến Sat Nov 10, 2018 10:20 pm

» Camila Cabello - Havana ( cover by J.Fla )
by Thị Hến Sat Nov 10, 2018 10:18 pm

» Camila Cabello - Havana (Official Audio) ft. Young Thug
by Thị Hến Sat Nov 10, 2018 10:17 pm

» Agar Tum Mil Jao - Tassawar Khanum - HD
by Thị Hến Sat Nov 10, 2018 10:14 pm

» Operacion Triunfo: Gala 5 - Nadia y Johana - Let it be
by Thị Hến Sat Nov 10, 2018 10:11 pm

» Frank Sinatra - My Way
by Thị Hến Sat Nov 10, 2018 10:07 pm

» Mughal - E - Azam - Teri Mehfil Mein Qismat - Lata Mangeshkar - Shamshad Begum - Chorus
by Thị Hến Sat Nov 10, 2018 9:56 pm

» The Beatles - Obladi oblada
by Thị Hến Sat Nov 10, 2018 9:51 pm

» Britney Spears - ...Baby One More Time (Lyrics + Español) Video Official
by Thị Hến Sat Nov 10, 2018 9:45 pm

» Westlife - My Love (Official Video)
by Thị Hến Sat Nov 10, 2018 9:36 pm

» Westlife - Swear It Again (Official Video)
by Thị Hến Sat Nov 10, 2018 9:34 pm

» Westlife - Fool Again (Official Video)
by Thị Hến Sat Nov 10, 2018 9:30 pm

» Westlife - If I Let You Go (Official Video)
by Thị Hến Sat Nov 10, 2018 9:29 pm

» M2M - Pretty Boy (With Lyrics)
by Thị Hến Sat Nov 10, 2018 9:25 pm

» M2M - The Day You Went Away
by Thị Hến Sat Nov 10, 2018 9:24 pm

» CẢI CÁCH CHỮ VIỆT (MT-169)
by Ntd Hoa Viên Fri Sep 07, 2018 1:41 pm

» TÌM VỀ HƯƠNG CỎ (MT-168)
by Ntd Hoa Viên Thu Jul 05, 2018 10:44 am

» MÃNH HỔ SA CƠ (MT-167)
by Ntd Hoa Viên Tue Apr 10, 2018 3:47 pm

» QUÁN TRỌ TRẦN GIAN (MT-166)
by Ntd Hoa Viên Fri Apr 06, 2018 6:32 am

» CƯỠI VẠT SƯƠNG CHIỀU (Mẫn Thanh-162-163)
by Ntd Hoa Viên Mon Apr 02, 2018 9:52 am

» Theo dõi thông tin world cup 2018 nhé
by sport06mkt Fri Mar 30, 2018 5:06 pm

» Theo dõi thông tin world cup 2018 nhé
by sport06mkt Tue Mar 27, 2018 5:50 pm

» Thông tin mới nhất về lịch thi đấu World Cup 2018
by sport06mkt Wed Mar 21, 2018 4:05 pm

» [SƠN DƯỢC] Thủ Heo Xào Hương Liệu
by RELAX Sun Feb 18, 2018 8:16 pm

» [SƠN DƯỢC] GÀ HẤP
by RELAX Sun Feb 18, 2018 7:54 pm

» [Sơn Dược] CÁC LOẠI GÀ
by RELAX Sun Feb 18, 2018 7:30 pm

» [SƠN DƯỢC] TÓP MỠ
by RELAX Sun Feb 18, 2018 6:43 pm

» [SƠN DƯỢC] MỰC NƯỚNG
by RELAX Sun Feb 18, 2018 6:34 pm

» [SƠN DƯỢC] LÒNG HEO PHÁ LẤU
by RELAX Sun Feb 18, 2018 6:32 pm

» [Sơn Dược] LẨU CÁ
by RELAX Sun Feb 18, 2018 6:24 pm

» MỚI PHÁT HIỆN TRANG NÀY THƯỞNG 1 TRIỆU NÈ MẤY CHẾ
by sport06mkt Wed Jan 10, 2018 4:09 pm

» EM LÀ GIRL XINH RỒNG HỔ ĐÂY MẤY ANH
by sport06mkt Tue Jan 09, 2018 4:50 pm

» SẮP ĐẾN TẾT RỒI, CÁC BÁC CÓ CHUẨN BỊ GÌ CHƯA
by sport06mkt Mon Jan 08, 2018 4:04 pm

» MỜI MẤY ANH VÔ ĐĂNG KÍ CÙNG PÉ RỒNG HỔ ĐỂ TRÚNG 3 TRIỆU NÈ
by sport06mkt Fri Jan 05, 2018 4:32 pm

» ĂN CHƠI NGÀY TẾT NÈ, KIẾM THÊM THU NHẬP ĐI NÀO
by sport06mkt Thu Jan 04, 2018 4:36 pm

» ĐĂNG KÍ LÀ CÓ THƯỞNG AH, DỄ QUÁ ĐI THÔI
by sport06mkt Wed Jan 03, 2018 12:16 pm

» BẠN MUỐN CÓ TIỀN ĐI CHƠI TẾT – QUÁ DỄ LUÔN
by sport06mkt Tue Jan 02, 2018 3:45 pm

» HOT GIRL RỒNG HỔ XIN TẶNG MẤY ANH 100K TIỀN THƯỞNG SAU KHI ĐĂNG KÍ TÀI KHOẢN
by sport06mkt Fri Dec 29, 2017 3:54 pm

» CHƠI BẮN CÁ ĐỂ ĐƯỢC THƯỞNG 3 TRIỆU ĐI CHƠI TẾT
by sport06mkt Thu Dec 28, 2017 5:19 pm

» Ngựa hí ngàn dặm Trải nghiệm kinh hoàngggg
by Sách Siêu Wed Dec 27, 2017 7:50 pm

» 10 Vận Động Viên Gian Lận Tại Thế Vận Hội Olympic
by Sách Siêu Wed Dec 27, 2017 7:44 pm

» Wang Rong Rollin - Chick Chick (王蓉 - 小雞小雞) MV
by Sách Siêu Wed Dec 27, 2017 7:30 pm

» BIG MOUTH (BM) BANAL NA ASO @ ZIRKOH MORATO
by Sách Siêu Wed Dec 27, 2017 7:25 pm

» Bài hát khó hát nhất thế giới :)) THẤP THỎM (忐忑) ca sĩ CUNG LÂM NA (龔琳娜) [HD]
by Sách Siêu Wed Dec 27, 2017 7:22 pm

» Top 5 bài khó hát nhất Thế giới
by Sách Siêu Wed Dec 27, 2017 7:20 pm

» Bài hát siêu chất thánh nào hát lại được ^_^
by Sách Siêu Wed Dec 27, 2017 7:18 pm

» Sặc cơm với tên khai sinh có 1 0 2 độc quyền của Việt Nam
by Sách Siêu Wed Dec 27, 2017 7:12 pm

» 10 bài kiểm tra của học trò khiến giáo viên cười ra nước mắt
by Sách Siêu Wed Dec 27, 2017 7:07 pm

» NGHỆ THUẬT VẼ 3D GÂY ẢO GIÁC CON TÊ GIÁC LUÔN
by Sách Siêu Wed Dec 27, 2017 6:36 pm

» Những Kiệt Tác Vẽ Bậy Sách Giáo Khoa - 100 Hilariously Defaced Textbooks
by Sách Siêu Wed Dec 27, 2017 6:33 pm

» 10 Người khiến Bill Gates cảm thấy TỦI THÂN vì NGHÈO QUÁ - Tốp 5 Kỳ Thú - Microsof
by Sách Siêu Wed Dec 27, 2017 6:23 pm

» 7 Pha ướp xác dưới băng hài hước của động vật - khoảng khắc kỳ thú - Tốp 5 Kỳ Thú
by Sách Siêu Wed Dec 27, 2017 6:18 pm

» ĐĂNG KÍ CÓ ĐƯỢC THƯỞNG ÍT NHẤT 3 TRIỆU NHOA NHOA
by sport06mkt Wed Dec 27, 2017 3:17 pm

» KIẾM TIỀN 3 TRIỆU ĐI CHƠI TẾT TÂY ĐI MẤY TÌNH YÊU ƠI
by sport06mkt Tue Dec 26, 2017 2:13 pm

» KIẾM 3.000.0000 TIỀN THƯỞNG KHI ĐĂNG KÍ NÀY
by sport06mkt Mon Dec 25, 2017 4:14 pm

» Wow, đăng kí là có cơ hội trúng iphone X nhen
by sport06mkt Fri Dec 22, 2017 3:39 pm

» HẤP DẪN LẮM ĐÓ NHA,ĐĂNG KÍ VỪA CÓ 100K VỪA ĐƯỢC ĐI CHƠI CÙNG HOT GIRL NOEL NÈ
by sport06mkt Thu Dec 21, 2017 3:38 pm

» Hương Tràm- Em Gái Mưa (Cover)- LyLy gần 4 tuổi
by Hương Như Wed Dec 20, 2017 9:21 pm

» Em mới kiếm được 1 triệu dễ dàng từ trang này nè mấy chế ơi
by sport06mkt Wed Dec 20, 2017 2:45 pm

» KIẾM 100K ĐI ĂN XÚC XÍCH NÈ
by sport06mkt Tue Dec 19, 2017 2:36 pm

» MOÁ ƠI, ĐĂNG KÍ LÀ CÓ NGAY 100K,DỄ THƯƠNG VÃI LUÔN
by sport06mkt Mon Dec 18, 2017 3:34 pm

» RỒNG HỔ LÊN MÂY – CÓ CÂY LÚC LẮC – HỎI THĂM 3 TRIỆU TIỀN THƯỞNG CÓ HAY CHƯA
by sport06mkt Fri Dec 15, 2017 11:39 am

» CHƠI BẮN CÁ, ĐƯỢC THƯỞNG 3 TRIỆU LIỀN À CÁCH CHƠI BẮN CÁ ĐƯỢC THƯỞNG 3 TRIỆU
by sport06mkt Thu Dec 14, 2017 5:45 pm

» CÓ VIP LÀ CÓ THƯỞNG – QUÀ TẶNG BAO LA
by sport06mkt Wed Dec 13, 2017 3:42 pm

» TRANG NÀY ĐẶC BIỆT QUÁ, TẠO TÀI KHOẢN CÓ THƯỞNG LUÔN
by sport06mkt Tue Dec 12, 2017 3:50 pm

» ƠN GIỜI CẬU ĐÂY RỒI 2015 | TẬP 12 - NGÔ KIẾN HUY & TRẤN THÀNH
by RELAX Mon Dec 11, 2017 10:38 pm

» Thầy tế Trấn Thành quyến rũ công chúa Ai Cập phản bội chồng con
by RELAX Mon Dec 11, 2017 9:49 pm

» ĐĂNG KÍ TÀI KHOẢN LÀ CÓ 1 TRIỆU LIỀN NHEN
by sport06mkt Mon Dec 11, 2017 4:17 pm

» Đĩa Bay Người Ngoài Hành Tinh Xuất Hiện Tại Malaysia
by RELAX Sat Dec 09, 2017 9:01 pm

» Bao Giờ Lấy Chồng? [OFFICIAL M/V]
by Thị Hến Sat Dec 09, 2017 8:36 pm

» Rằng Em Mãi Ở Bên [OFFICIAL M/V]
by Thị Hến Sat Dec 09, 2017 8:33 pm

» MỪNG GIÁNG SINH AN LÀNH – THƯỞNG 3 TRIỆU CHO AI ĐĂNG KÍ NÀO
by sport06mkt Fri Dec 08, 2017 4:23 pm

» NGỌN ĐUỐC TÀN (MT-159-160)
by Ntd Hoa Viên Thu Dec 07, 2017 5:16 pm

» NHANH TAY LÊN, ĐĂNG KÍ CÓ 3.000.000Đ
by sport06mkt Thu Dec 07, 2017 4:36 pm

» MR SIRO NGHE ĐI RỒI KHÓC ♪♪ Tuyển Tập Những Bài Hát Hay Nhất Của Mr Siro 2017
by lethuyhang Fri Dec 01, 2017 10:23 pm

» ĐÃ CẠN Ý THƠ (MT-157-158)
by Ntd Hoa Viên Fri Dec 01, 2017 8:39 am


Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự

Go down

Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự Empty Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự

Bài gửi by Cây Bút Lạ on Sat Jun 12, 2010 3:43 pm

Giới từ (preposition) và liên từ (subordinating conjunction) giông giống nhau và có khi khó phân biệt, nhưng có một mẹo dễ phân biệt chúng: đó là nhìn vào từ theo sau chúng.

1. Giới từ thường theo sau bằng một danh tự (nominal):

Because of the bad weather. (Danh từ weather là đối tượng của giới từ because of).

Before leaving home. (Đây là mệnh đề gerund: leaving home là đối tượng của giới từ before).

After what we had done. (Mệnh đề danh từ [noun clause] what we had done là đối tượng của giới từ after).

2. Liên từ thì theo sau bằng một cấu trúc chủ ngữ - động từ mà không có một mối liên hệ nào khác dính dáng vào.

Because of the weather was bad. (Because là liên từ có chức năng giới thiệu một mệnh đề phụ).

Before we left home. (Before là liên từ giới thiệu một mệnh đề phụ).

Before, after, since, as, until có thể có chức năng vừa là giới từ vừa là liên từ, tùy vào cái gì theo sau chúng: Since this morning; since you went away.


3. If, when, while, although và một số liên từ khác có thể có cấu trúc chủ ngữ - động từ bị hoán chuyển để có chức năng như là một mệnh đề giới từ.

When you were mopping the floor
When mopping the floor

If it is at all possible
If at all possible

Although he was very upset
Although very upset

Trong các câu trên “when mopping the floor”, “if at all possible” và “although very upset” là những mệnh đề giới từ, và đều đúng văn phạm.

4. Liên từ nối hai câu văn thường là and, but, or, nor, for, yet. Những liên từ này có thể nối 2 từ, 2 câu văn, thậm chí giới thiệu một câu văn mới:

He said he would do it. And he did.

She had not planned to attend the meeting. Yet she did.

5. Nối kết câu văn. Khi hai câu văn độc lập nhau, nên sử dụng dấu chấm phẩy. Khi hai câu văn có liên quan nhau, dùng dấu chấm câu:

We watched his folly develop; in fact, we nurtured it.

Thanh was a fantastically successful scientist. However, he did not emerge from his great career a rich man.

Nhưng dấu phẩy cũng thỉnh thoảng được sử dụng:

She was not pleased by his technique. She was delighted, however, by his self-control.

===
Cây Bút Lạ
Cây Bút Lạ
Bạn thân tình
Bạn thân tình

Tổng số bài gửi : 219
Mỹ Kim : 529
Join date : 07/12/2009

Về Đầu Trang Go down

Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự Empty Tiếng Anh bài 2. Sai sót trong so sánh

Bài gửi by Cây Bút Lạ on Sat Jun 12, 2010 3:44 pm

Khi đọc bản thảo của các nghiên cứu sinh Á châu, tôi phát hiện một sai sót rất phổ biến trong những câu văn có nội dung so sánh. Chính tôi trước đây cũng từng phạm phải những sai sót này. Trong tiếng Việt, chúng ta có thể nói “Ông A được xếp hạng cao hơn ông B”, và câu văn đó hoàn toàn đúng. Nhưng trong tiếng Anh thì câu văn đó chưa đủ. Trong tiếng Anh, khi viết về so sánh chúng ta cần để ý đến động từ đi kèm theo đối tượng được so sánh.

Câu văn so sánh thường có chủ thể (subject) và đối tượng so sánh (evaluator). Trong câu trên, ông A là chủ thể, và ông B là đối tượng so sánh.

Sai: Trang ranks Michael Jackson higher than Janet Jackson. (Trong câu này, Janet Jackson là đối tượng so sánh, và câu văn này chưa đầy đủ).

Đúng: Trang ranks Michael Jackson higher than she ranks Janet Jackson.

1. So sánh phải cụ thể

Trong tiếng Anh, nhất là tiếng Anh cho khoa học, so sánh phải cụ thể, chứ không nên chung chung. Chẳng hạn như câu sau đây:

The mountains in Vietnam are lower and greener than Cambodia

là so sánh kiểu chung chung vì chúng ta không biết so sánh với cái gì ở Cambodia (tiếng Việt ta thì ok vì có thể nói những rặng núi ở Việt Nam cao hơn và xanh hơn Cambodia nhưng trong tiếng Anh thì không được nói như thế). Câu này nên được sửa lại là:

The mountains in Vietnam are lower and greener than the mountains in Cambodia

Hay “văn hoa” hơn một chút bằng sách sử dụng those:

The mountains in Vietnam are lower and greener than those in Cambodia

2. Có thể bỏ as trong so sánh kép

Cả hai as và than thường được sử dụng trong các câu văn so sánh:

In vietnam, the spread of infectious diseases is as ferocious as, if not more ferocious than, in Europe

Cấu trúc câu này khá “nặng nề” (nhưng không sai). Chúng ta có thể bỏ as mà câu văn vẫn đúng (chú ý cách dùng dấu phẩy):

In vietnam, the spread of infectious diseases is as ferocious, if not more ferocious, than in Europe

Nhưng thật ra, câu trên, theo tôi có thể viết gọn gàng hơn:

In vietnam, the spread of infectious diseases is at least as ferocious as in Europe

3. Comparative và superlative

Qui luật là thế này: câu văn so sánh (comparative) bao gồm 2 đối tượng, còn cấp so sánh (superlative) thì có nhiều đối tượng. Trong ngôn ngữ nói hàng ngày, chúng ta có thể nói

She was the tallest of the twins

thì chấp nhận được, nhưng trong văn viết thì câu đó chưa chỉnh. Phải viết:

She was the taller of the twins

hay tương tự:

I am the oldest of three brothers (chứ không phải I am the older of three brothers).

4. Lạm dụng other

Câu văn so sánh dưới hình thức tính từ thường có một đối tượng được lấy làm chủ thể để so sánh với các đối tượng khác trong nhóm. Có thể sử dụng other trong câu văn viết, nhưng coi chừng sai! Hãy xem ví dụ sau đây:

Ho Chi Minh City is larger than any city in Vietnam
(Câu này có thể hiểu là thành phố Hồ Chí Minh không thuộc nước Việt Nam!)

Nên sửa lại cho rõ ràng hơn:

Ho Chi Minh City is larger than any other city in Vietnam

Câu sau đây có thể khó hiểu:

Hoang is older than any boy in the class
(Hoang là nam hay nữ?)

Sửa lại:

Hoang is older than any other boy in the class

Nhưng câu văn sau đây thì thể hiện sự lạm dùng other:

Hoang is the oldest of all the other boys in the class.
(All ở đây bao gồm Hoang; other thì lại loại bỏ Hoang!)

Do đó, cần sửa lại như sau (bỏ other):

Hoang is the oldest of all the boys in the class.
Cây Bút Lạ
Cây Bút Lạ
Bạn thân tình
Bạn thân tình

Tổng số bài gửi : 219
Mỹ Kim : 529
Join date : 07/12/2009

Về Đầu Trang Go down

Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự Empty Tiếng Anh bài 3: Song song và cân đối

Bài gửi by Cây Bút Lạ on Sat Jun 12, 2010 3:45 pm

Trong một câu văn, 2 hay nhiều ý tưởng có cùng đặc tính được gọi là “parallel” (song song). Để câu văn có hiệu quả tốt, chúng ta cần phải viết (hay nói) những ý tưởng song song theo công thức sau đây: danh từ đi với danh từ, vô định với vô định (infinitive), mệnh đề phụ với mệnh đề phụ, v.v…

1. Danh từ song song

They studied history, mathematics, and chemistry.

Nhưng câu sau đây thì không chuẩn: They studied about the past, mathematics, and how matter is constituted.

2. Infinitive

He learned to swim, to play tennis, and to ride a horse.

Chứ không phải: He learned to play tennis, swimming, and the art of horseback riding.

3. Mệnh đề

In her praises of the summer camp, she mentioned that the food was good, that the climate was perfect, and that the equipment was superb.

Không nên viết: In her praises of the summer camp, she mentioned that the food good, that the climate was perfect, and what superb equipment they had.

Nên: The old house was battered by the rain and bleached by the sun.

Không nên: The old house was battered by the rain and there was no color left because it was standing in the open sunlight.

3. Cố gắng viết những câu văn song song sao cho số từ tương đương nhau

Không nên: He was a good scientist, but was very poor in keeping books.

Sửa lại cho chỉnh hơn: He was a good scientist, but a poor bookkeeper.

Câu này cũng không chuẩn mấy: He believed in democracy for the upper classes, but felt that the common people should be ruled by their superiors,

và nên sửa lại như: He believed in democracy for the upper classes, but autocracy for the masses.
Cây Bút Lạ
Cây Bút Lạ
Bạn thân tình
Bạn thân tình

Tổng số bài gửi : 219
Mỹ Kim : 529
Join date : 07/12/2009

Về Đầu Trang Go down

Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự Empty Tiếng Anh bài 4. Tiếng Anh kiểu Mĩ và kiểu Anh

Bài gửi by Cây Bút Lạ on Sat Jun 12, 2010 3:46 pm

Loạt bài tiếng Anh đã nhận được nhiều phản hồi của bạn đọc. Có người đề nghị tôi nên tập trung vào kĩ năng viết bài báo khoa học hơn là tiếng Anh vì các “đại gia” tiếng Anh trong nước đã xuất bản hàng trăm sách về chuyện này. Tuy nhiên, như tôi nói ngay từ đầu, đây là không phải là loạt bài mang tính giáo khoa, mà chỉ là những mẹo, kinh nghiệm cá nhân để chia sẻ với các bạn thôi. Tôi không có ý cạnh tranh với các thầy giáo tiếng Anh. Có bạn đọc đặt câu hỏi, xin cố vấn. Trong số thư gửi đến, có 2 thư mà tôi nghĩ có thể đem ra đây bàn thảo. Hai thư này liên quan đến những khác biệt giữa tiếng Anh kiểu Mĩ và tiếng Anh kiểu … người Anh.

1. Dấu phẩy và and

Thư thứ nhất hỏi tôi về cách sử dụng dấu phẩy (,). Bạn đọc hỏi tôi rằng anh viết “They studied history, mathematics and chemistry” thay vì “They studied history, mathematics, and chemistry”, như vậy câu nào chuẩn hơn. Tôi trả lời ngay rằng cả 2 câu đều chuẩn. Người Mĩ hay dùng dấu phẩy trước and, còn người Anh thì bỏ dấu phẩy.

Cá nhân tôi thấy tiếng Anh kiểu Mĩ thực tế hơn, đơn giản hơn, mà lại nhẹ nhàng hơn tiếng Anh kiểu Hoàng hậu (Queen’s English). Do đó, tôi quen với cách viết của Mĩ, và điều này đã gây bực bội cho vài đồng nghiệp ở Úc vì Úc theo Anh.

Bạn đọc đó cũng hỏi có nên viết History, Mathematics, Chemistry (thay vì history, mathematics, chemistry). Tôi nghĩ mấy danh từ là danh từ chung, nên không có lí do gì viết hoa mẫu tự đầu cả. Thật vậy, nhiều tập san khoa học bây giờ đòi hỏi tác giả không nên viết hoa; họ không chịu “Study Design and Methods” mà bắt buộc phải viết “Study design and methods”.

2. Story và storey

Một bạn đọc khác hỏi tôi rằng: “Báo Saigon Times Weekly (bản tiếng Anh) số ra ngày 12/9/09, ở trang 35 có dòng chữ quảng cáo:

37 Story Luxury Condominiums

Tôi nghĩ chắc họ muốn nói storey (tầng) chứ không phải story. Thầy có ý kiến gì không?”

Tôi không nghĩ họ lầm. Thật vậy, Saigon Times viết đúng – đúng theo tiếng Anh kiểu Mĩ. Trong tiếng Anh kiểu Mĩ, người ta có thể viết story để vừa chỉ tầng vừa chỉ câu chuyện, tùy theo văn cảnh. Còn tiếng Anh kiểu Anh thì phân biệt rành rọt giữa storey và story.

Ở đây, tôi chỉ muốn bàn thêm 2 điểm:

Thứ nhất là chuyện số nhiều và số ít. Trong tiếng Anh, những danh từ gốc Latin như datum (dữ liệu), condominium (căn hộ), addendum (phụ chú), v.v… có số nhiều là data, condominia, addenda, v.v… Nhưng người Mĩ thì bất cần qui tắc của tiếng Anh của người Anh, nên họ viết số nhiều là condominiums.

Số nhiều của storey hay story là stories. Do đó, nếu muốn nói 37 tầng thì viết đúng là 37 stories. Nhưng nếu viết 37-story (chú ý không có số nhiều) thì chữ này thành mệnh đề tính từ, và phải kèm theo sau một danh từ, chẳng hạn như “37-story building” có nghĩa là building có 37 tầng.

Quay trở lại câu quảng cáo “37 Story Luxury Condominiums”, tôi nghĩ đáng lẽ phải có dấu gạch nối thì chuẩn hơn: 37-Story Luxury Condominiums.
Cây Bút Lạ
Cây Bút Lạ
Bạn thân tình
Bạn thân tình

Tổng số bài gửi : 219
Mỹ Kim : 529
Join date : 07/12/2009

Về Đầu Trang Go down

Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự Empty Tiếng Anh bài 5. Paragraph

Bài gửi by Cây Bút Lạ on Sat Jun 12, 2010 3:47 pm

Không nói ra thì ai cũng biết paragraph là một đoạn văn, và một đoạn văn bao gồm nhiều câu văn (sentence). Nói cụ thể hơn, một paragraph có thể xem là một tiểu luận nhỏ. Điều này có nghĩa là chúng ta phải tuân theo những qui luật cơ bản trong cách viết một tiểu luận (essay). Những qui luật cơ bản đó là: cung cấp cho người đọc biết điểm gì chúng ta muốn phát biểu trong phần đầu của paragraph, phát triển chủ đề bằng cách sử dụng ví dụ cụ thể, rồi sau đó là kết luận một cách có suy nghĩ.

Câu văn đầu tiên của một paragraph phải là câu văn “thông báo” đề tài chúng ta muốn cung cấp cho người đọc. Chính vì thế mà câu văn đầu thường phải viết chung chung, không mang tính cụ thể. Chúng ta thử xem một đoạn văn sau đây của Samuel P. Huntington (một nhà khoa học chính trị nổi tiếng, và đối với tôi ông cũng là một cây bút tuyệt vời):

The United States is becoming increasingly diverse ethnically and racially.The Census Bureau estimates that by 2050 the American population will be 23 percent Hispanic, 16 percent black and 10 percent Asian-American. In the past the United States has successfully absorbed millions of immigrants from scores of countries because they adapted to the prevailing European culture and enthusiastically embraced the American Creed of liberty, equality, individualism, democracy. Will this pattern continue to prevail as 50 percent of the population becomes Hispanic or nonwhite? Will the new immigrants be assimilated into the hitherto dominant European culture of the United States? If they are not, if the United States becomes truly multicultural and pervaded with an internal clash of civilizations, will it survive as a liberal democracy? The political identity of the United States is rooted in the principles articulated in its founding documents. Will the de-Westernization of the United States, if it occurs, also mean its de-Americanization? If it does and Americans cease to adhere to their liberal democratic and European-rooted political ideology, the United States as we have known it will cease to exist and will follow the other ideologically defined superpower onto the ash heap of history.

Câu đầu tiên (The United States is becoming increasingly diverse ethnically and racially) cho chúng ta biết chủ đề của đoạn văn nói về sự đa dạng sắc tộc trong xã hội Mĩ. Những đoạn sau đó, ông trình bày dữ liệu để làm cơ sở cho nhận xét của mình. Câu cuối cùng trong đoạn văn nói về ý nghĩa của vấn đề đa sắc tộc và cảnh báo rằng Mĩ đứng trước nguy cơ mất identity vì tình trạng này.

Nhưng thỉnh thoảng, nhất là trong khoa học, chúng ta cũng không nhất thiết phải tuân thủ theo qui luật trên. Có khi chúng ta trình bày ví dụ trước (để thu hút chú ý của người đọc) và tiếp theo sau là một hay vài câu văn giải thích ý nghĩa của ví dụ đó. Đoạn văn ngắn sau đây là một ví dụ:

Đầu tiên, gây chú ý cho độc giả:

Since H2-blockers became available over the counter (OTC) in drug stores, physicians have reported that some public assistance patients have ceased their use of these medications and are experiencing recurrences of epigastric distress.

Sau đó là vài câu văn chung chung về ý nghĩa của câu văn trên:

Sometimes, regulations that are intended to make drugs more available to patients have a paradoxical effect of reducing their use. [đoạn văn này sau đó giải thích tại sao] Because welfare patients could previously get the H2-blocker drugs at no personal cost by prescription, but now that the drugs are available OTC, they are no longer eligible for prescription and patients must pay for the medication.

Viết bài báo khoa học cũng giống như viết tiểu thuyết trinh thám, hiểu theo nghĩa phải hấp dẫn người đọc ngay từ đầu, và làm cho người đọc không buông được câu chuyện. Tôi thường hay nói với nghiên cứu sinh là phải cố gắng viết bài báo sao cho hay, hay đến nỗi nếu tổng biên tập một tập san nào từ chối không đăng thì ông/bà đó cũng cảm thấy hối hận, nuối tiếc. :-) Do đó, cấu trúc một đoạn văn rất ư quan trọng, vì những câu văn trong đó dìu dắt và cung cấp người đọc những tình (chi) tiết cụ thể và thuyết phục. Xin nhắc lại tầm quan trọng của một đoạn văn: nó là một tiểu luận nhỏ.

NVT
Cây Bút Lạ
Cây Bút Lạ
Bạn thân tình
Bạn thân tình

Tổng số bài gửi : 219
Mỹ Kim : 529
Join date : 07/12/2009

Về Đầu Trang Go down

Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự Empty Tiếng Anh bài 6. Thì, dạng, và số chữ cho một động từ

Bài gửi by Cây Bút Lạ on Sat Jun 12, 2010 3:48 pm

1. Thì (tense)

Một trong những sai lầm tôi hay phát hiện khi duyệt các bài báo khoa học là cách sử dụng thì trong bài báo. Chẳng riêng gì từ các tác giả Á châu mà ngay cả các tác giả Âu Mĩ cũng vấp phải sai lầm này. Sau đây là một số qui định (thật ra, chính xác là qui ước) về cách sử dụng thì trong một bài báo khoa học.

Nếu mô tả phương pháp và kết quả nghiên cứu của công trình đang báo cáo, dùng thì quá khứ (past tense):

We found that one third of the rats survived, one thrid died, and the third rat got away.

Nếu đề cập đến một công trình đã công bố trước đó trên một tập san nào đó, sử dụng thì hiện tại (present tense):

In their groundbreaking work, Smith et al report a 33% survival rate in the test population.

2. Active hay passive voice

Xin nhắc lại: một câu văn như We found that gọi là active voice (dạng chủ động), còn it was found that thì được gọi là passive voice (dạng thụ động). Câu hỏi đặt ra là trong bài báo khoa học, chúng ta nên sử dụng dạng nào? Đây là một vấn đề mà cho đến nay, theo tôi biết, vẫn chưa ngã ngũ.

Khoảng 20 năm trước, khi tôi và đồng nghiệp nộp một bài báo quan trọng cho British Medical Journal tổng biên tập và 3 chuyên gia bình duyệt lúc đó đồng loạt phê bình tôi vì tôi sử dụng dạng chủ động. Họ yêu cầu tôi phải sửa lạt tất cả từ dạng chủ động sang dạng thụ động. Sửa xong, nộp lại và qua lần bình duyệt thứ hai, họ từ chối công bố! Nhưng khoảng 5 năm trở lại đây cũng chính tập san này (và Lancet nữa) lại khuyến khích sử dụng dạng chủ động.

Qua theo dõi các tập san y khoa trong thời gian gần đây, tôi có thể nói rằng càng ngày càng có nhiều bài báo mà trong đó tác giả sử dụng dạng chủ động. Như vậy, xu hướng chủ động này đang dần dần trở thành một qui ước chuẩn. Xin lấy vài ví dụ:

The Lancet 2004;363:112-118

“We followed up children once a day for diarrhoea and a month for anthropometry …”

New England Journal of Medicine 2004;350:114-124

“We enrolled 518 patients with polycythemia vera …”

British Medical Journal 2001; 323:382-386

“I searched the Cochrane Library, Medline, and Embase to identify studies of common pathological finding in ….”

Tuy nhiên, cũng có trường hợp mà theo tôi sử dụng dạng thụ động là cách “lịch sự” nhất. Chẳng hạn như khi chúng ta thực hiện một việc gì đó kém quan trọng hơn là người tiếp thu công việc đó. Ví dụ:

The patient was injected with the test drug

đọc chắc chắn dễ chịu hơn là

We injected the test drug into the patient

Hay trong trường hợp một việc làm mà người làm có thể không quan trọng mấy:

The patients were randomized into two groups by a computer program

Trong trường hợp này, ai làm ngẫu nhiên hóa cũng được, chứ chẳng cần “I” hay “We”.

3. Số chữ cho mỗi động từ

Động từ là một từ hành động trong một câu văn. Do đó, các chuyên gia tiếng Anh cho biết có thể đếm mật độ chữ trên mỗi động từ để biết một câu văn yếu hay mạnh. Nếu câu văn có 20 chữ trên mỗi động từ thì câu văn đó được xem là yếu. Ví dụ:

The use of an excessive number of words in conjunction with a single verb makes for a weak sentence, deficient in strong words, often complex in structure, and very likely complicated by a number of subordinate clauses. (37 từ!)

4. Cố gắng làm phong phú câu văn

Chúng ta thử đọc câu văn sau đây:

The elderly patient fell on a scatter rug at home. The patient struck his shoulder when he landed. The patient sustained a fracture of left humerus.

Ba câu văn bắt đầu bằng một chữ lặp đi lặp lại 3 lần: patient. Ba câu văn rất đơn giản, ngắn, và có thể nói là khá nhàm. Cách viết này cho thấy tác giả không có kinh nghiệm viết văn.

Do đó, để làm cho câu văn sống động, nên cố gắng sử dụng biến thể, và tránh lặp lại một từ nhiều lần. Câu văn trên có thể sửa lại như sau:

The elderly patient fell on a scatter rug at home, striking his shoulder and sustaining a fracture of the left humerus.

NVT
Cây Bút Lạ
Cây Bút Lạ
Bạn thân tình
Bạn thân tình

Tổng số bài gửi : 219
Mỹ Kim : 529
Join date : 07/12/2009

Về Đầu Trang Go down

Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự Empty Tiếng Anh bài 7. Đại danh từ

Bài gửi by Cây Bút Lạ on Sat Jun 12, 2010 3:48 pm

1. Sử dụng đại danh từ cho chủ thể con người và vật thể

The qui ước tiếng Anh, it và its là đại danh từ (pronoun) được sử dụng trước một chủ thể là vật (không phải con người). Tuy nhiên, một số động vật mà giới tính đóng vai trò quan trọng hay động vậy quen thuộc với con người (như chó, mèo) thì có thể gọi là he hay she.

Những đại danh từ tương đối (relative pronoun) như who, whom, that đề cập đến những chủ thể con người hay động vật quen thuộc với con người; còn which và that thì sử dụng cho các chủ thế không phải là con người.

Ví dụ: He is once of those who know all too well that the memories that move us fade all too fast. (Those là chủ thể con người của who; memories là chủ thể không phải con người của that).

That có thể sử dụng cho cả con người và không phải con người. Nhiều người viết giỏi thường sử dụng that để thay thế cho who, which. Tuy nhiên, một qui ước chung là that nên sử dụng trong mệnh đề xác lập “căn cước” của chủ thể, còn who và which thì sử dụng cho những chủ thể mà chúng ta đã biết.

Ví dụ: A man that drinks and drives a car that has faulty brakes does not think much of his wife, who must sit at home listening to the sounds of night traffic. (Man và car là chủ thể cần được nhận dạng; còn wife là chủ thể đã được nhận dạng bằng who.)

2. Sử dụng đại danh từ như là một mệnh đề tham khảo

Khi chủ thể của một đại danh từ bị loại bỏ, câu văn có thể rất khó hiểu và không rõ ràng. Ví dụ:

Instead of setting a total fee, the doctor charged $20 a month until the work was completed, which the medical profession considers unethical.

Trong câu này, rất khỏ biết đại danh từ which đề cập đến cái gì. Do đó, câu văn có thể viết lại rõ ràng hơn bằng cách thêm vào một chủ thể cụ thể như sau:

Instead of setting a total fee, the doctor charged $20 a month until the work was completed, an arrangement that the medical profession considers unethical.

Hay như trong câu văn sau đây mang tính “ngụ ý”:

My father wants me to be a doctor, but this is a profession that does not appeal to me.

Vì không biết this đề cập đến chủ thể gì. Có thể sửa lại như sau:

My father wants me to be a doctor, but medicine is a profession that does not appeal to me.

Một ví dụ khác về sử dụng đại danh từ không rõ ràng:

I have visited Benson College, but I do not want to go there because they are snobs

They là ai? Có lẽ người viết muốn nói đến sinh viên của trường:

On my visit to Benson College, I soon found out that the students are snobs. That’s why I do not want to go there.

3. Sử dụng đại danh từ cho nhiều chủ thể

Khi một đại danh từ đề cập đến nhiều chủ thể, câu văn có thể khỏ hiểu. Một cách làm cho câu văn dễ hiểu hơn là đặt đại danh từ gần chủ thể mà người viết muốn đề cập đến.

Không rõ ràng: Everybody could see that she was a beautiful little girl who looked closely. Trong câu này chúng ta không biết who đề cập đến everybody hay là girl).

Có thể sửa lại rõ ràng hơn: Everybody who looked closely could see that she was a beautiful little girl.

Nếu là người giàu ngữ vựng câu văn trên còn có thể sửa lại “văn hoa” hơn:

An observant person could see that she was a beautiful little girl.

Một ví dụ khác về sử dụng đại danh từ cho nhiều chủ thể:

Mù mờ: The doctor told him that he ought to take a vacation. (Him đề cập đến ai? Bệnh nhân hay là doctor?)

Câu văn có thể sửa lại tốt hơn:

The doctor said to him, “You I really ought to take a vacation.”

Hay, tốt hơn nữa:

The doctor advised the patient to take a vacation.
Cây Bút Lạ
Cây Bút Lạ
Bạn thân tình
Bạn thân tình

Tổng số bài gửi : 219
Mỹ Kim : 529
Join date : 07/12/2009

Về Đầu Trang Go down

Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự Empty Tiếng Anh bài 8. Sử dụng từ ngữ đơn giản

Bài gửi by Cây Bút Lạ on Sat Jun 12, 2010 3:51 pm

Một trong những “bệnh” của người mới học viết tiếng Anh là hay … khoe chữ. Họ cố tình sử dụng những từ khó hiểu, thường có nguồn gốc Latin hay Hi Lạp, như ngầm nói với người đọc rằng vốn liếng ngữ vựng của họ rất giàu. Nhưng trong khoa học, vì nhu cầu trong sáng và chính xác, chúng ta nên sử dụng những từ đơn giản, dễ hiểu, và cần phải tránh xa những từ ngữ phức tạp và “kiêu kì”. Sau đây là danh sách (chưa đầy đủ) một số từ cần được “đơn giản hóa”:

1. Sử dụng từ ngữ “kinh tế” một chút (trong ngoặc kép)

o because thay vì of based on the fact that;

o for hay to thay vì for the purpose of.

o there were several patients who completed … nên thay thế bằng several patients completed ...;

o it is suggested that a relationship may exist (a relationship may exist);

o both alike (alike); one and the same (the same);

o a total of 10 subjects (10 subjects);

o four different groups (four groups);

o absolutely essential (essential);

o found previously (found);

o small in size (small);

o in close proximity (in proximity);

o very close to zero (close to zero);

o much better (better);

o period of time (time);

o summarize briefly (summarize);

o the reason is because (the reason is);

o also included (included);

o except for (except).

2. Chính xác

o patient hay participant thay vì subject;

o concentration hay frequency thay vì level.

• Không nên khái quát hóa một cách không cần thiết. Chẳng hạn như, không nên viết some khi chúng ta biết rằng chỉ có 1 trường hợp duy nhất. Viết some khi chỉ có 1 là … nói dóc.

• This thường không rõ ràng. Nên viết this test hay this problem để câu văn rõ ràng hơn.

• Tránh những từ thậm xưng (hyperbole) như very hay extremely (văn phong khoa học thường trầm tĩnh, lạnh lùng).

• Không sử dụng however hai lần trong một đoạn văn, bởi vì thay đổi chiều hướng lí giải 2 lần trong một đoạn văn sẽ làm cho người đọc bực mình.

• Không sử dụng however hơn 1 lần trong 10 đoạn văn; nên tìm từ khác như although, nevertheless, despite, v.v…

• Tránh sử dụng chủ đề thiếu nhân tính (non-human agent). Chẳng hạn như viết the authors concluded that… thay vì the study concluded that….

• Tránh thành ngữ thông tục (colloquialism), như steer clear of.

• Tránh as such, như trong câu văn sau đây: The SCAT is a reliable test of state anxiety. As such, it is suitable for experimental studies. Có thể sửa lại: The SCAT is a reliable test of state anxiety; it is therefore suitable for experimental studies.

• Tránh her, his và các từ ngữ hàm ý kì thị giới.

3. Tránh những từ ngữ có thể làm cho người đọc mất chú ý:

At the present time (không cần thiết)

It is believed (dẹp, khoa học không có niềm tin)

Approximately (about)

Is required (nên thay thế bằng is needed)

commences (begins, starts)

vast majority (Most)

Literature shows (literature nào? Cần tài liệu tham khảo)

Elevated (raised)

In excess of (Above)

Female subjects (Women)

Of the same opinion (Agreed)

Be of assistance (Help)

It seemed to the present researchers (we thought)

v.v...

NVT
Cây Bút Lạ
Cây Bút Lạ
Bạn thân tình
Bạn thân tình

Tổng số bài gửi : 219
Mỹ Kim : 529
Join date : 07/12/2009

Về Đầu Trang Go down

Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự Empty Tiếng Anh bài 9. Dùng dấu phẩy

Bài gửi by Cây Bút Lạ on Sat Jun 12, 2010 3:52 pm

Tưởng rằng chuyện dùng dấu phẩy là đề tài của học sinh tiểu học, nhưng trong thực tế thì cách dùng dấu phẩy không đơn giản như chúng ta tưởng. Chả thế mà sách dạy tiếng Anh cho các nhà chuyên môn vẫn có một chương hay phần dài của chương sách để chỉ dẫn cách dùng dấu phẩy cho đúng.

Chẳng nói đâu xa, trong cái concept paper mà tôi có dịp bàn trước đây, tác giả có viết một câu mà tôi nghĩ rằng thiếu dấu phẩy: “Developments in and related to the South China Sea have by and large been consistent to the overall contemporary trend toward greater cooperation in Asia-Pacific.”

Vậy thì dấu phẩy nên được dùng trong trường hợp nào? Sau đây là những trường hợp cần đến dấu phẩy.

1. Tách rời một danh sách sự việc hay đối tượng:

John, Fred, and Frank. (Chú ý: có khi người ta không dùng đến dấu phẩy cho đối tượng sau cùng, như “John, Fred and Frank”).

He wrote paper articles, books, and short stories.

He went across the sidewalk, down the street, and into the bar.

2. Tách rời các mệnh đề trong một câu văn phức tạp được nối bằng những liên từ:

The professor invited his students to lunch, and most of them accepted the invitation.

I have not completed my experiment, yet I plan to do another one.

3. Tách biệt những thán từ (interjection):

Oh, I thought so.

Hello, I am glad to see you here.

I try so hard, alas, to do it

Yes, I will be pleased to discuss with you.

4. Để khởi đầu một câu văn mang tính bổ nghĩa (modifier). Những từ mang tính bổ nghĩa thông dụng là however, nevertheless, moreover, furthermore, therefore, on the other hand.

However, the relationship did not exist.

On the other hand, we found that the CFG gene was associated with increased risk of hypertension.

5. Để khởi đầu một nhóm từ tuyệt đối (absolute phrase). Những nhóm từ tuyệt đối là thường được cấu trúc bằng động tính từ (participle) hay đại danh từ như the sun having risen:

The river being cold, we did not go swimming.

It seems sensible, the weather being warm, to pack a lunch.

6. Để bắt đầu một mệnh đề trước một chủ từ:

During the long winter of 1881, the King suffered a sever illness.

(Câu này cũng có thể viết: In 1818, the King suffered a severe illness).

7. Để bắt đầu một thán từ trong một thứ tự bình thường như:

The university, old and respected, went broke.

The year of his graduation, 1950, was an eventful one.

8. Để tách rời hai điều tương phản nhau:

I want to see a doctor, not a lawyer.

She longed to find happiness, but found misery instead.

9. Để khởi đầu những yếu tố không có giới hạn:

His father, Mr. Smith, was ill

My friend, who is an engineer, is coming for a visit

10. Để tránh hiểu lầm:

During the summer, days become longer
(nếu viết During the summer days become longer thì người ta có thể hiểu summer days là một danh-tính-từ)

Soon after, the meeting was adjourned
(nếu không có dấu phẩy, người đọc có thể hiểu after the meeting)

Với những hướng dẫn trên, chúng ta có thể quay lại với câu văn của Học viện Ngoại giao và viết lại như sau:“Developments in and related to the South China Sea have, by and large, been consistent to …”. Nhưng câu văn đó nhiều sai sót về cách dùng từ mà tôi đã bàn trước đây.

NVT
Cây Bút Lạ
Cây Bút Lạ
Bạn thân tình
Bạn thân tình

Tổng số bài gửi : 219
Mỹ Kim : 529
Join date : 07/12/2009

Về Đầu Trang Go down

Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự Empty Tiếng Anh bài 10: Những lỗi thông thường về văn phạm

Bài gửi by Cây Bút Lạ on Sat Jun 12, 2010 3:53 pm

Sáng nay tôi phải đọc duyệt một bài báo (bản thảo) của một nhóm nghiên cứu Hàn Quốc, và qua đó tôi phát hiện rất nhiều sai lầm trong cách diễn tả và những sai sót văn phạm rất … Á đông. Một trong những sai lầm phổ biến nhất ở người châu Á khi mới học tiếng Anh là cách sử dụng mạo từ (a và the). Nhưng một số sai lầm tiêu biểu còn thể hiện qua cách sử dụng dấu phẩy nữa. Ngoài ra, còn có sai sót mang tính nội dung và logic về cách cấu trúc một câu văn (sentence) và một đoạn văn. Tôi không thể trích dẫn nhưng sai sót của bài báo này vì đang trong vòng phản biện kín, nên tôi chỉ có thể mượn bài báo để bàn đến một số sai sót phổ biến mang tính Á đông.

1. Thiếu dấu phẩy sau nhóm từ dẫn nhập. Chẳng hạn như “After the analysis of blood samples of TB patients we continued to isolate PPG”, đáng lẽ phải có dấu phẩy sau chữ “patients”.


2. Thiếu dấu phẩy trong một câu văn ghép (compound sentence). Một câu văn ghép thường bao gồm 2 mệnh đề độc lập nhau nhưng nối với nhau bằng một giới từ như for, and, nor, but, or, yet, so. Một sai lầm phổ biến là thiếu dấu phẩy giữa hai mệnh đề như câu sau đây: “Many studies show that high body weight is associated with high bone mass and moreover reductions in body weight may cause bone loss”. (Đáng lẽ phải có dấu phẩy trước and. Thật ra, câu này còn có vài sai sót khác nữa, nhưng tôi không bàn ở đây).

3. Thiếu dấu phẩy trong các mệnh đề không giới hạn (nonrestrictive clauses). Cần phân biệt mệnh đề giới hạn và không giới hạn. Chẳng hạn như câu "My brother in the red shirt likes ice cream," nếu người viết có 2 người anh, thì thông tin về cái áo màu đỏ là giới hạn (restrictive). Nếu là restrictive clause thì chúng ta không cần dấu phẩy. Tuy nhiên, nếu người viết chỉ có 1 người anh, thì thông tin về cái áo đỏ không cần thiết để chỉ người đó, và đây là mệnh đề không giới hạn. Mệnh đề không giới hạn cần có dấu phẩy như ví dụ sau đây: "My brother, in the red shirt, likes ice cream."

4. Dấu phẩy nối. Một dấu phẩy nối (comma splice) xày ra khi hai mệnh đề độc lập nối vơi nhau bằng một dấu phẩy. Chẳng hạn như "Picasso was profoundly affected by the war in Spain, it led to the painting of great masterpieces like Guernica." Một dấu phẩy nối cũng có thể sử dụng để chia một chủ từ từ một động từ. Ví dụ như trong câu "The young Picasso felt stifled in art school in Spain, and wanted to leave," chủ từ Picasso bị tách ra từ một trong những động từ của nó là wanted. Đáng lẽ không cần dấu phẩy trong câu này, ngoại trừ tác giả muốn nhấn mạnh bằng văn phạm, nhưng đây là trò chơi nguy hiểm đối với những ai chưa thạo viết tiếng Anh.

5. Thiếu dấu phẩy trong một chuỗi sự vật. Khi liệt kê một chuỗi sự vật, nên dùng dấu phẩy là điều ai cũng biết, nhưng vấn đề tranh cãi là có nên dùng dấu phẩy trước sự vật sau cùng. Ví dụ như trong câu “Apples, oranges, pears, and bananas...”, vấn đề đặt ra là có nên dùng dấu phẩy trước “and”. Người Mĩ và Canada thì nói nên, còn người Anh và Úc thì nói không nên. Cá nhân tôi thích kiểu viết của Mĩ (tôi có nhiều lí do để nói như thế) nên tôi hay dùng dấu phẩy trước chữ “and” để làm câu văn rõ ràng hơn.

6. Đại danh từ mù mờ. Ví dụ như trong câu “The boy and his father reported that he had had a history of fragility fracture”, chúng ta không biết người viết đề cập đến người con trai hay là người cha có tiền sử gãy xương.

7. Dùng sai từ. Cái này thì quá hiển nhiên, nhưng dùng từ cho đúng trong khoa học không phải là chuyện dễ dàng vì nó đòi hỏi người viết phải am tường vấn đề chuyên môn và cập nhật với thông tin. Chẳng hạn như trong câu vừa trích trên, đáng lẽ tác giả phải viết là “bone mineral density” chứ không phải “bone mass”, vì hai thuật ngữ này rất khác nhau về khái niệm. Trong y học, chúng ta cần phân biệt giữa “association” và “relationship”. Nếu là nghiên cứu bệnh chứng, hay nghiên cứu một thời điểm (cắt ngang hay cross-sectional), thì mối liên hệ giữa hai yếu tố nên được mô tả bằng thuật ngữ association hơn là relationship. Chỉ khi nào chúng ta có bằng chứng can thiệp trong nghiên cứu thử nghiệm thì mới sử dụng relationship thay cho association. Ngoài ra, đừng nên lạm dụng thuật ngữ “linkage” vì nó chỉ sử dụng cho các nghiên cứu và phân tích di truyền trong gia đình, chứ không phải cho các nghiên cứu quần thể.

8. Thiếu hay viết sai “inflected ends”. "Inflected ends" là thuật ngữ nói đến một nhóm lỗi về văn phạm liên quan đến sự nhất quán của chủ đề và động từ (subject-verb agreement), hay sai sót về who/whom, v.v... Trong tiếng Anh, khi chúng ta thêm một mẫu tự hay âm tiết (syllable) phía sau một từ chúng ta có thể thay đổi ý nghĩa và chức năng văn phạm của câu văn. Chẳng hạn như thêm "ed" vào một động từ chúng ta chuyển động từ đó thành thì quá khứ (ai cũng biết!), nhưng có thể biến thành một tính từ, hay thêm "s" vào một danh từ làm cho danh từ có số nhiều, nhưng cũng có khi biến thành một tính từ.

9. Sai hay thiếu giới từ. Giới từ có khi rất … nguy hiểm. Thử xem hai cách viết "Our sample is different from the American sample" và "Our sample is different than the American sample", câu nào tốt hơn? Mặc dù cả hai cách viết/nói được sử dụng phổ biến, nhưng "different from" được xem là chuẩn hơn. Tương tự, người ta vẫn còn tranh luận chung quanh chữ "toward" và "towards." Mặc dù cả hai đều sử dụng khá nhiều, nhưng hình như "toward" được sử dụng nhiều hơn (còn người Anh thì sử dụng towards nhiều hơn toward).

10. Dùng thì không đúng. Cần cẩn thận trong cách dùng thì quá khứ và hiện tại trong khi viết báo cáo khoa học. Thông thường, khi đề cập đến y văn trong quá khứ thì nên dùng thì quá khứ, nhưng nếu một mối hiên hệ hay sự kiện đã được chấp nhận như là “sự thật” thì có thể dùng thì hiện tại. Chẳng hạn như “Previous studies have shown that high blood pressure was a risk of stroke”, nhưng cũng có thể viết “high blood pressure is a risk of stroke” vì mối quan hệ này được chấp nhận là sự thật. Khi viết báo cáo nghiên cứu của chính mình, cũng nên dùng thì quá khứ. Tuy nhiên, khi đề cập đến một biểu đồ hay bảng số liệu ngay trong paper thì nên dùng thì hiện tại, chẳng hạn như trong câu “Figure 1 shows that diabetes was associated with an increased risk of stroke”, chúng ta dùng “shows” thay vì “showed”, nhưng khi báo cáo về fact thì chúng ta dùng thì quá khứ “was associated”.

11. Những câu văn vô duyên, vô ý. Đây là cách viết đáng “ghét” nhất, vì đọc một câu văn (fragmented sentence) mà chẳng có ý gì hoàn chỉnh, làm mất thì giờ. Chẳng hạn như câu văn “In Japan, during the last decade and just before the NOF year” này chẳng nói lên cái gì cả, vì chẳng có chủ từ và động từ. Còn loại văn như sau “Some of the students working in Professor Sminth’s laboratory last semester” còn vô duyên hơn vì tôi chẳng biết tác giả muốn nói cái gì. Tôi chú ý là có rất nhiều sinh viên Việt Nam viết văn theo kiểu này, và nó nói lên tác giả chẳng có ý tứ gì hay chẳng biết mình muốn nói gì. Rất dở.

12. Dùng từ bổ nghĩa (modifier) sai. Từ bổ nghĩa là những tính từ, trạng từ, hay mệnh đề mà người viết muốn khai triển thêm. Nếu từ bổ nghĩa được sử dụng đúng, câu văn sẽ có thể rất “kêu”, rất “thơ”, nhưng nếu dùng sai thì câu văn trở nên rất vô duyên. Thử đọc câu này “The professor wrote a paper on obesity in his office” rất buồn cười, bởi vì béo phì xảy ra trong văn phòng của ông giáo sư chăng? Hay là văn phòng làm việc của ông ấy là nơi ông viết về béo phì? Chúng ta không biết khi đọc câu văn đó. Nhưng nếu viết “In his office, the professor wrote a paper on obesity” thì câu văn rõ ràng hơn.

Có khi người viết dùng từ bổ nghĩa một cách … đong đưa, và đây cũng là lỗi cần phải tránh. Thử đọc câu văn sau đây: “Walking through the laboratory, my heart ached” làm người đọc có thể hiểu rằng tim của người viết bị đau khi bước qua phòng thí nghiệm! Có lẽ một cách viết chuẩn hơn là “Walking through the laboratory, I felt an ache in my heart”.

13. Nhất quán giữa chủ từ và động từ (subject-verb agreement). Đây là vấn đề “muôn thủa” của “phe ta”, và tôi sẽ quay lại trong một dịp khác. Nhưng ở đây, tôi sưu tầm một vài qui ước phổ biến nhất như sau:

Khi chủ từ số ít được nối kết với nhau bằng “and” thì chủ đề thành số nhiều: Both the architect and the interior designer like to push artistic boundaries.

Những đại danh từ bất định (indefinite pronouns) như someone, anyone, no-one, anybody, somebody, nobody, one, either, neither thường được xem là số ít: No-one likes to fail at university.

Những danh từ với some, any, all, most có thể số ít nhưng cũng có thể số nhiều, tùy thuộc vào danh từ có thể đếm được (countable) hay không đếm được (uncountable): Some of the policies were rejected whilst others were approved (policies là một danh từ có thể đếm được) nhưng “Some of the research was conducted at the University” (research là một danh từ không thể đếm được)

Một chủ từ nối bằng ‘either…or’, ‘neither…nor’, hay ‘not only…but also’, thì động từ nên chia theo chủ đề gần nhất: Neither the lecturer nor the students want to reschedule the class. (want nhất quán với students)

Vấn đề khó khăn khi câu văn có chủ đề là một danh từ tập hợp (collective noun) hay đại danh từ tập hợp. Ví dụ như “The committee want a resolution to the problem” là sai vì committee (ủy ban) là một thực thể (dù thực thể đó có nhiều thành viên) cho nên chúng ta nên viết “The committee wants a resolution to the problem”.

Nhiều người nhầm lẫn đại danh từ Everyone và Their. Chẳng hạn như trong câu "Everyone is entitled to their opinion," chữ their đáng lẽ phải là his/her bởi vì "everyone" là đại danh từ số ít.

Lời nhắn các bạn trẻ:

Kinh nghiệm của tôi và nhiều đồng nghiệp khác khi tiếp xúc với người Việt, nhất là những người từng đi du học ở nước ngoài vài năm, cho thấy họ thường rất tự tin về tiếng Anh. Có người còn nói rằng họ làm thông dịch cho các chuyên gia nước ngoài, như là một bằng chứng về khả năng Anh ngữ của họ. Tôi có cảm giác họ chẳng cần học gì thêm nữa. Nhưng kinh nghiệm cá nhân tôi, người từng sống và làm việc trong môi trường nói tiếng Anh cả vài chục năm, tôi vẫn thấy mình rất dốt tiếng Anh. Có thể tôi không có năng khiếu với tiếng Anh, nhưng tôi thấy ngay cả đồng nghiệp tôi sinh ra và lớn lên ở Úc, ở Mĩ, ở Anh, những người ở hàng giáo sư mà vẫn sai phạm tiếng Anh như thường. Nên nhớ rằng văn phạm không chỉ là những qui định mang tính bất biến. Văn phạm thật ra là một cấu trúc ngôn ngữ thay đổi theo thời gian. Chính vì thế mà văn phạm là chủ đề của nhiều nghiên cứu và phân tích của giới khoa bảng. Do đó, tôi muốn nhắn với các bạn sinh viên trẻ là: học, học nữa và học mãi tiếng Anh. Đừng nên quá tự tin mà thất bại thê thảm khi ra nước ngoài.

NVT
Cây Bút Lạ
Cây Bút Lạ
Bạn thân tình
Bạn thân tình

Tổng số bài gửi : 219
Mỹ Kim : 529
Join date : 07/12/2009

Về Đầu Trang Go down

Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự Empty Tiếng Anh bài 11: Cách dùng từ

Bài gửi by Cây Bút Lạ on Sat Jun 12, 2010 3:54 pm

Một bài báo khoa học dễ hiểu là bài được viết bằng những từ ngữ đơn giản, và cách sử dụng từ ngữ một cách … kinh tế. Viết đơn giản có lẽ là một lời khuyên phổ biến, nhưng kinh nghiệm của tôi cho thấy nhiều sinh viên khi mới vào nghề thường sử dụng những từ cầu kì, và hệ quả là câu văn trở nên khó hiểu. Nên nhớ rằng mục tiêu của chúng ta – tác giả bài báo khoa học – là muốn công trình của mình đến với nhiều đồng nghiệp quốc tế, những người có thể chưa thạo tiếng Anh. Do đó, sử dụng những từ ngữ đơn giản và viết súc tích là một kĩ năng rất quan trọng.



1. Tránh những từ kém thông tin và rườm rà. Những nhóm từ rườm rà là những nhóm từ có 2 hay nhiều từ có cùng ý nghĩa hay nói lên một ý. Chẳng hạn như brief in duration có thể viết đơn giản hơn là brief. Tương tự, sufficient in number có thể chỉ đơn giản là sufficient. Câu the wound was of a serious in nature có thể viết gọn là the wound was of a serious, hay the solution was red in color có thể đơn giản hóa thành the solution was red (vì red là màu). Một lỗi tôi thường hay thấy là cách viết we repeated the experiment again, trong đó repeated và again nói cùng ý; do đó, có thể viết đơn giản hơn là we repeated the experiment.

Bài tập: Bây giờ các bạn thử viết lại những nhóm từ sau đây đơn giản hơn, bằng cách bỏ những từ không cần thiết hay những từ thừa.

• We carefully investigated
• The past history of this concept …
• They mixed together
• Twenty human volunteers were recruited
• The original source for this work was …
• Advance planning
• Globular in shape
• This x-ray film is more preferable than
• It seems to appear
• For a period of several minutes, the animals had been in a stressful condition
• The role of cobra toxin is still a matter for speculation
• The work will be completed in the not-too-distant future
• The reaction rate was examined and found to vary considerably
• The results would seem to indicate the possibility that impurities might be present
• As a result of these experiments it became quite evident that overheating of the samples had occurred
• As far as my own experiments are concerned, they show …
• It has been found that …
• It is interesting to note that …
• Needless to say …


2. Đơn giản một nhóm từ bằng một từ

Có nhiều phát biểu mà trong thực tế có thể chỉ cần 1 từ là đủ, hay thậm chí không cần thiết. Chẳng hạn như at this point in time có thể viết đơn giản hơn là now. Hay như the reason was because cũng có thể chỉ viết because là đủ.

Bạn thử viết lại những cụm từ sau đây đơn giản hơn:

• In view of the fact that
• Was observed to be
• In the near future
• In most cases
• It would appear that
• Is suggestive of
• As to whether
• In the vincinity of
• It was evident that
• In the event that

3. Tránh những từ “đao tao búa lớn”. Tiếng Anh gọi những từ to lớn là grandiloquence, hàm ý nói những từ hoa mĩ, tráng lệ, mà hình như người viết muốn gây ấn tượng cho người đọc. Abraham Lincoln đọc bài diễn văn Gettysburg ngắn gọn làm nãn lòng nhiều người lúc đó, nhưng đến nay ai cũng công nhận đó là một trong những bài diễn văn hay nhất và có hiệu quả nhất trong lịch sử chính trị thế giới. Trong khoa học cũng vậy, chúng ta cần phải tránh những từ hoa mĩ, và chọn những từ đơn giản, dễ hiểu để thông tin trong bài báo có thể chuyển tải đến nhiều đồng nghiệp.

Các bạn thử viết lại những câu sau đây đơn giản hơn:

• Computations were conducted on the data

• It may seem reasonable to suggest that the necrotic effect may possibly be due to toxin

• In studies pertaining to identification of phenolic derivatives, drying of the paper gives less satisfactory visualization

• A method, which was found to be expedient and not very difficult to accomplish and which possessed a high degree of accuracy on its results, was devised whereby …

4. Tránh sáo ngữ (cliché) và uyển ngữ (euphemism), vì những từ ngữ này có khi rất khó hiểu. Chẳng hạn như all in all thì hoàn toàn không cần thiết, còn if and when thì có thể thay thế bằng if.

Một số sáo ngữ trong y khoa tôi thường thấy là the patient expired, the patient passed away, the patient succumbed, the patient breathed his last, the patient has gone to his rest, v.v… có thể chỉ đơn giản viết là the patient died. Ai cũng hiểu die là gì, nhưng ít ai hiểu succumbed hay gone to his rest.

Các bạn thử viết lại những cụm từ hay câu văn sau đây:

• Unless and until
• It goes without saying
• Within the realm of possibility
• We sacrificed the animal
• We performed euthanasia on the animal

Tôi sẽ cung cấp câu trả lời hay gợi ý trả lời sau.

NVT
Cây Bút Lạ
Cây Bút Lạ
Bạn thân tình
Bạn thân tình

Tổng số bài gửi : 219
Mỹ Kim : 529
Join date : 07/12/2009

Về Đầu Trang Go down

Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự Empty Tiếng Anh bài 12: Mạo từ

Bài gửi by Cây Bút Lạ on Sat Jun 12, 2010 3:55 pm

Có lẽ cách học tiếng Anh có hiệu quả nhất là học từ lỗi. Bài vừa qua (bài số 11) đã được các bạn đọc chào đón nồng nhiệt. Có cả 10 emails các bạn nói nên chỉ ra những lỗi tiếng Anh để các bạn học từ đó. Hôm nay là mồng 3 Tết, và tôi nhân dịp này bàn với các bạn cách dùng mạo từ. Chỉ dẫn về cách dùng mạo từ rất nhiều trên internet và sách giáo khoa, nên tôi không ê a nhắc lại. Tôi chỉ nói vài ý chính của cách dùng mạo từ.

Thứ nhất là tính xác định. Một danh từ xác định (definite noun) khi danh từ đó được cả người đọc và người viết biết đến. Chẳng hạn như nếu tôi đang muốn dùng cái máy DXA, tôi có thể hỏi kĩ thuật viên: “Can I use the DXA machine?” Tôi dùng the ở đây vì cả tôi và kĩ thuật viên đều biết cái mày mà tôi nói đến. Nhưng nếu một sự vật mà chỉ có tôi hay bạn biết thì phải dùng mạo từ a/an. Chẳng hạn như nếu tôi nói với bạn rằng “I saw a funny-looking car today”, tôi dùng mạo từ a bởi vì chỉ có tôi biết cái xe đó, còn bạn thì không biết.

Sau đây là 5 nguồn để biết một danh từ xác định hay không.

1. Danh từ đó đã được đề cập trước: I saw a funny-looking professor yesterday [lần đầu tiên nói về một ông giáo sư không xác định]. He looked like an artist rather than an academic. When he saw me, the professor walked toward my car [lần thứ hai, đề cập đến ông giáo sư theo thể xác định].

2. Một so sánh hay một tính từ so sánh làm cho danh từ trở nên cụ thể: The tallest man in the crowd is 2 m tall. [chỉ có một người đàn ông cao nhất trong đám đông]. Ví dụ khác: Please read the fourth paragraph on page 3. [Chỉ có 1 đoạn văn số 4 trong trang.] Today is the most important day of my life. [Chỉ có 1 ngày quan trọng nhất]

3. Danh từ mô tả một cá nhân, một địa điểm hay một sự vật cá biệt:

The earth revolves around the sun once every 365 days. [Chỉ có 1 trái đất và 1 mặt trời.]

4. Một từ hay cụm từ mang tính bổ ngữ theo sau danh từ làm cho danh từ đó rõ nghĩa hơn: Do you remember the doctor who went camping with us? [Dùng the ở đây để nói đến người bác sĩ đi cắm trại].

5. Văn cảnh hay tình huống làm cho danh từ rõ ràng. Chẳng hạn như please close the door, ở đây chúng ta dùng the bởi vì cả hai người đều biết cái cửa nào được đề cập đến.

Nguyên tắc chung: Để chọn đúng mạo từ cho một danh từ, cần phải xác định xem danh từ là số ít hay số nhiều. Một cách dễ dàng để xác định số ít hay số nhiều là chúng ta tự hỏi có thể đặt one trước danh từ đó không. Chẳng hạn như chúng ta có thể nói one experiment, nhưng không thể nói one knowledge. Nếu danh từ không phải là số ít, thì danh từ đó ắt phải là số nhiều hay không đếm được (uncountable noun). Bảng sau đây chỉ cách dùng mạo từ dựa vào 2 yếu tố vừa đề cập:

1. Danh từ số ít.

(a) Nếu danh từ đó mang tính xác định, dùng the.

The book in the bookcase was given to me by an old friend.

(b) Nếu danh từ đó không mang tính xác định, dùng a/an.

My lunch consisted of a sandwich, two cookies, and a can of water. (sandwich và can là danh từ số ít, chúng có thể là danh từ xác định nếu người viết và người đọc đều biết đến hay đề cập trước đây. Tuy nhiên, ở đây chúng ta chọn a để nói rằng cả hai người viết và đọc đều không biết hai vật thể này)

2. Danh từ số nhiều hay không đếm được.

(a) Nếu danh từ không mang tính xác định, dùng a/an.

The technical papers that I gave you last week are top secret. (Số nhiều và xác định)

The wool that is produced in New Zealand is used to make sweaters and other garments. (Wool là danh từ không đếm được nhưng xác định do có cụm từ “produced in New Zealand”)

(b) Nếu danh từ đó không mang tính xác định, không dùng mạo từ.

Long papers are difficult to read. (Ở đây papers là số nhiều và không xác định)

Ngoài ra, nên nhớ rằng một số nước và địa điểm phải có the:

The United States of America
The United Kingdom
The Soviet Union
The United Nations (the U.N.)
The Organization of Petroleum Exporting Countries (OPEC)
The Empire State Building
The University of Virginia

Chúng ta biết rằng a dùng trước một danh từ với phụ âm như a house, a large rock, và an dùng trước một danh từ với nguyên âm như an interesting subject, an experiment. Nhưng với những danh từ bắt đầu bằng nguyên âm u có thể dùng a hay vì an bởi vì u thường đọc là yu. Do đó, chúng ta có thể viết a university, a urban population, a useful idea. Những danh từ có gốc tiếng Pháp với phụ âm h cũng có thể dùng a: an heir to the throne, an hour-long lecture, an honorable agreement, v.v...

Bài tập

Thử điền vào các khoảng trống sau đây bằng mạo từ the, a/an, hay không có mạo từ (điền 0).

1. _______(a) Decline and Fall of ______(b) Roman Empire

2. ________(a) complexity of _______(b) problem of ______(c) decline and fall of the Roman Empire is made evident by _______(d) wide variety of causes that are emphasized in varying degrees by _______ (e) different authors.

3. Fortunately, ________(a) concise formulation of Edward Gibbon serves as _________(b) widely accepted basis for _______(c) modern discussion of _________(d) problem.

4. According to Gibbon, _________(a) empire reached its peak during _______(b) administration of ________(c) two Antonines.

5. After that, however, ________(a) extent of ________(b) Roman conquest became too great to be managed by _______(c) Roman government, and _______(d) decline began.

6. ______(a) military government was weakened and finally dissolved as ______(b) barbarians were allowed to constitute ______(c) ever-growing percentage of ______(d) Roman legions.

7. ______(a) victorious legions began to dominate and corrupt _______(b) government, weakening it at ______(c) time when it most needed ______(d) strength to overcome _______(e) other problems.


Một trong những lỗi tiếng Anh mà sinh viên Việt Nam thường hay mắc phải là cách dùng mạo từ (article). Thú thật với các bạn, chính tôi phải mất hơn 5 năm trời tiếp xúc và học hỏi tiếng Anh ở ngoài này mới dùng mạo từ đúng được. Ấy thế mà thỉnh thoảng tôi vẫn dùng sai (nhưng may phước là tôi biết mình … sai)!

I have a good news for you.
The men are national beings.
The boys leave the school at four o'clock.
He sent a word that he would come soon.
I have read the Shakespeare's Macbeth.
You cannot set a foot in this house.
The envy is an evil passion.
He has not yet gone to the bed.
He is Daniel in judgment.
He made very wise decision.
Fire broke out in our village.
Andamans are a group of islands.
Cây Bút Lạ
Cây Bút Lạ
Bạn thân tình
Bạn thân tình

Tổng số bài gửi : 219
Mỹ Kim : 529
Join date : 07/12/2009

Về Đầu Trang Go down

Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự Empty Tiếng Anh bài 13: đạo văn, diễn giải, tóm lược và trích dẫn

Bài gửi by Cây Bút Lạ on Sat Jun 12, 2010 3:56 pm

1. Trích dẫn, như chúng ta biết, có nghĩa đơn giản là lấy nguyên văn của tác giả khác nhưng phải để trong ngoặc “ “ và phải ghi nhận nguồn. Một ví dụ trích dẫn là:

A WHO Expert Consultation states that “[…] overweight (≥ 25 kg/m2) corresponded to 31-39% (mean 35%) body fat in females and 18-27% (mean 22%) body fat in males. If these criteria for the percentage body fat for overweight and obesity are applied to the Asian populations, the corresponding BMIs can be calculcated with countru-specific equations” (WHO Expert Consutation, 2004).

Ở đây, chúng ta thấy tác giả để nguyên câu văn của WHO trong ngoặc kép, và khi đóng ngoặc kép thì ghi nguồn của đoạn văn.

Trong những bài báo khoa học, ít khi nào người ta trích dẫn, vì nó gây một cảm giác không mấy thoải mái. Trích dẫn nguyên văn có khi được xem là một hành động lười biếng, hay là một cách tỏ thái độ khiêu khích, mỉa mai. Nhưng tôi thấy trong các bài báo khoa học xã hội và nhân văn, các tác giả có xu hướng trích dẫn rất nhiều, có lẽ do “văn hóa” làm việc của họ. Mặc dù không có qui ước nào vế lượng trích dẫn bao nhiêu là thích hợp, nhưng hình như ai cũng đồng ý rằng một bài báo mà lượng trích dẫn hơn 10% được xem là quá mức.

2. Tóm lược là hình thức diễn tả lại ý tưởng chính của đoạn văn gốc bằng một đoạn văn rất cô đọng và rất chung chung, mà không hẳn dùng lại những chữ của tác giả gốc. Thông thường một đoạn văn tóm lược chỉ có 3 đến 7 câu văn.

Tóm lược cũng là một nghệ thuật, và có khi đòi hỏi người viết phải có một nội lực khá về ngữ vựng. Sau đây là vài chỉ dẫn để làm một tóm lược tốt. Trước hết là đọc bài báo. Kế đến là đọc lại bài báo, đánh dấu (gạch dòng) những ý tưởng quan trọng, dùng dấu hình tròn để đánh dầu những từ ngữ hay thuật ngữ quan trọng, và tìm điểm chính của bài báo. Chia bài báo làm nhiều đoạn về ý tưởng và viết một câu văn tóm lược cho từng đoạn. Kế tiếp là viết một đoạn văn tóm lược. Nên nhớ rằng trong đoạn văn tóm lược, tác giả có thể

Ví dụ như đoạn văn sau đây:

Students frequently overuse direct quotation in taking notes, and as a result they overuse quotations in the final [research] paper. Probably only about 10% of your final manuscript should appear as directly quoted matter. Therefore, you should strive to limit the amount of exact transcribing of source materials while taking notes. Lester, James D. Writing Research Papers. 2nd ed. (1976): 46-47.

có thể tóm lược như đoạn dưới đây:

Students should take just a few notes in direct quotation from sources to help minimize the amount of quoted material in a research paper (Lester 46-47).

Ở đây, tác giả vẫn giữ ý chính của đoạn văn gốc và có ghi nguồn, nhưng câu chữ đã được lám ngắn gọn lại, bỏ bớt những chi tiết như 10%. Đây là cách tóm lược hợp lí, không phải đạo văn.

3. Đạo văn: Hội giáo sư đại học Mĩ (American Association of University Professors) định nghĩa đạo văn (plagiarism) là lấy ý tưởng, phương pháp, hay chữ của người khác làm của mình, mà không ghi nhận nguồn gốc và tác giả (nguyên văn: "taking over the ideas, methods, or written words of another, without acknowledgment and with the intention that they be taken as the work of the deceiver.") Đạo văn là một “tội phạm” trong khoa học, một lỗi không thể chấp nhận được. Đã có rất nhiều trường hợp mà những nhà khoa học, sinh viên, nghiên cứu sinh, v.v… bị tiêu tan sự nghiệp chỉ vì đạo văn.

Đạo văn thường xuất hiện dưới nhiều hình thức, chứ không phải chỉ trong bài báo khoa học hay sách vở. Chẳng hạn như một bác sĩ trình bày báo cáo hay bài giảng bằng powerpoint ở một hội nghị, seminar, symposium, v.v… có sử dụng ý tưởng, số liệu, hình ảnh, câu văn của người khác mà không ghi rõ nguồn thì vẫn có thể xem là một hình thức đạo văn.

Đây là một đoạn văn trong cuốn Lizzie Borden: A Case Book of Family and Crime in the 1890s của Joyce Williams và đồng tác giả (trang 1):

The rise of industry, the growth of cities, and the expansion of the population were the three great developments of late nineteenth century American history. As new, larger, steam-powered factories became a feature of the American landscape in the East, they transformed farm hands into industrial laborers, and provided jobs for a rising tide of immigrants. With industry came urbanization the growth of large cities (like Fall River, Massachusetts, where the Bordens lived) which became the centers of production as well as of commerce and trade.

và thử đọc đoạn văn sau đây:

The increase of industry, the growth of cities, and the explosion of the population were three large factors of nineteenth century America. As steam-driven companies became more visible in the eastern part of the country, they changed farm hands into factory workers and provided jobs for the large wave of immigrants. With industry came the growth of large cities like Fall River where the Bordens lived which turned into centers of commerce and trade as well as production.

Đoạn văn này được xem là đạo văn. Tại sao? Lí do thứ nhất là tác giả chỉ thay đổi vài chữ và vài câu, thay đổi thứ tự của đoạn văn gốc. Lí do thứ hai là tác giả không ghi nguồn gốc của ý tưởng.

Để tránh đạo văn, cần phải đề rõ nguồn của ý tưởng, dữ liệu của người khác trong bài báo khoa học của mình. Một cách tránh đạo văn là học cách tóm lược (như trình bày trên) và diễn giải (paraphrase sẽ trình bày dưới đây).

4. Diễn giải: Theo cách hiểu chung thì diễn giải có nghĩa là một cách viết lại đoạn văn gốc của người khác với chữ của chính mình (nhưng ý tưởng thì vẫn mượn từ tác giả khác) và nhất định phải ghi nguồn.

Trong báo cáo khoa học, kĩ năng diễn giải rất quan trọng, vì nó tạo cơ hội cho các tác giả đang học tiếng Anh một cách học tiếng Anh thực tế nhất và hữu hiệu nhất. Kinh nghiệm của tôi cho thấy cách diễn giải tốt nhất là đọc đi đọc lại đoạn văn gốc cho đến khi hiểu đầy đủ ý nghĩa của đoạn văn, sau đó đặt đoạn văn gốc qua một bên, và viết lại đoạn văn với từ và cách trình bày của chính mình. Nếu cần, viết vài chữ ở phía dưới đoạn văn mới viết để tự nhắc nhở mình nên sử dụng hay thay đổi câu văn này như thế nào. Một vài điều quan trọng cần nhớ khi diễn giải câu văn của người khác như sau:

Thứ nhất là giữ đúng nghĩa của bản gốc. Nên nhớ rằng chúng ta chỉ diễn giải lại, nên không được thay đổi những mối quan hệ trong bản gốc và ý nghĩa mà tác giả muốn nói.

Thứ hai là dùng từ đồng nghĩa (synonym). Điều này đòi hỏi người viết phải có một vốn ngữ vựng khá để có thể thay đổi chữ của người khác mà vẫn không thay đổi ý nghĩa gốc. Đối với những thuật ngữ thì cách an toàn nhất là không nên thay đổi, vì làm như thế rất ư là ngô nghê!

Thứ ba là thay đổi văn phạm. Cách tốt nhất là cắt câu văn dài thành một vài câu văn ngắn, hoặc gép vài câu văn quá ngắn thành một câu văn cô đọng hơn. Cách thứ hai là thay đổi thì active thành thì passive cũng là một hình thức rất hữu hiệu.

Thứ tư là (nếu được) thay đổi thứ tự của thông tin. Đôi khi các tác giả viết văn cũng rất khó hiểu vì họ trình bày nhiều thông tin làm loãng ý chính, và đây chính là cơ hội lí tưởng để mình diễn giải thì ý của mình bẳng cách sắp xếp lại ý tưởng và thông tin một cách logic hơn.

Thứ năm là để ý đến thái độ của tác giả đến đề tài. Đôi khi tác giả để lộ thái độ và cảm tính với đề tài (qua những từ như certain, uncertain, critical, striking, remarkable, wonderful, v.v…) và viết lại theo hình thức trung hòa hơn. Trong khoa học văn chương cần phải … lạnh lùng, tránh từ ngữ cảm tính.

Quay lại câu văn gốc trên,

The rise of industry, the growth of cities, and the expansion of the population were the three great developments of late nineteenth century American history. As new, larger, steam-powered factories became a feature of the American landscape in the East, they transformed farm hands into industrial laborers, and provided jobs for a rising tide of immigrants. With industry came urbanization the growth of large cities (like Fall River, Massachusetts, where the Bordens lived) which became the centers of production as well as of commerce and trade.

nếu tác giả viết:

Fall River, where the Borden family lived, was typical of northeastern industrial cities of the nineteenth century. Steam-powered production had shifted labor from agriculture to manufacturing, and as immigrants arrived in the US, they found work in these new factories. As a result, populations grew, and large urban areas arose. Fall River was one of these manufacturing and commercial centers (Williams 1).

thì sẽ không xem là đạo văn mà là diễn tả lại ý chính của tác giả gốc. Đây là một cách diễn giải hợp lí, chấp nhận được, bởi vì tác giả giữ thông tin gốc qua cách dùng chữ, và cho biết nguồn gốc của ý tưởng.

Như tôi nói ở trên, diễn giải một đoạn văn ngoài kĩ năng văn phạm, cú pháp, còn đòi hỏi một vốn ngữ vựng dồi dào. Ngữ vựng cho phép chúng ta dùng từ khác với từ gốc. Một số từ có thể thay thế mà có thể không làm thay đổi ý nghĩa gốc như sau:

Từ chỉ không gian: above, below, here, there, v.v...

Từ chỉ thời gian: after, before, currently, at present, during, earlier, later, v.v...

Từ chỉ ví dụ: for example, for instance, v.v...

Từ chỉ thêm nữa: additionally, in addition, also, moreover, furthermore, equally important, v.v...

Từ chỉ tương đương: also, likewise, in the same way, similarly, v.v...

Từ chỉ ngoại lệ: but, yet, however, nonetheless, on the other hand, on the contrary, v.v...

Từ chỉ loạt: first, second, third, next, then, v.v...

Từ nhấn mạnh: indeed, in fact, of course, v.v...

Từ chỉ nguyên nhân và hệ quả: accordingly, consequently, as a result, as a consequence, therefore, thus, v.v...

Từ kết luận: finally, in conclusion, in summary, on the whole, in the end, v.v...

Đạo văn trong khoa học được nhắc đến rất nhiều lần, và một phần không nhỏ có liên quan đến sinh viên mà tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ. Đã có nhiều trường hợp luận án bị thu hồi vì vấn đề đạo văn. Khi người ta làm nghiên cứu ở sinh viên Mã Lai đang học tại Úc thì phát hiện rằng họ không cố ý đạo văn, nhưng chỉ vì họ không phân biệt được khác biệt giữa đạo văn, diễn giải, và tóm lược. Tôi hi vọng bài này sẽ giúp một phần cho “phe ta” phân biệt được 3 hình thức trên và tránh phạm phải lỗi lầm đáng tiếc.

Viết bài báo khoa học không đơn giản như nhiều người tưởng. Không biết các ngành khác thì sao, nhưng trong lĩnh vực y khoa thì viết một bài báo khoa học 10 trang thường kéo dài khoảng 3 tháng. Nói như vậy để các bạn mới vào “nghề” không nên đánh giá thấp quá trình và kĩ năng viết một bài báo khoa học.

NVT
Cây Bút Lạ
Cây Bút Lạ
Bạn thân tình
Bạn thân tình

Tổng số bài gửi : 219
Mỹ Kim : 529
Join date : 07/12/2009

Về Đầu Trang Go down

Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự Empty Tiếng Anh bài 14. Vài lỗi tiếng Anh rất đặc thù Á châu

Bài gửi by Cây Bút Lạ on Sat Jun 12, 2010 3:57 pm

Trong những sắc dân học tiếng Anh như là một ngôn ngữ thứ 2, tôi đoán người Á châu chúng ta thường gặp khó khăn hơn so với người Âu châu. Có lẽ do người Âu châu và Anh có cùng văn hóa phương Tây, nhưng lí do gần nhất là tiếng Anh và những tiếng gốc Latin và Hi Lạp có cùng cách nói và cách viết, nên họ ít phạm phải những lỗi người Á châu chúng ta hay vấp phải. Tôi sẽ cố gắng sưu tầm những sai sót trong cách viết của người Á châu để các bạn trước là thưởng thức, và sau là … học.

Sau đây là một vài lỗi phổ biến về cách viết câu văn trong tiếng Anh hay thấy ở người Á châu:

1. One of his family members is dead.
2. My brother's all the books have been stolen.
3. For what you are here ?
4. Tell me why did you go there ?
5. I, you and he will go together.
6. Exercise is good both for work as well as health
7. He did not abstain to smoke but persisted to purchase valuable cigars
8, To him I did a request which he did not comply.
9. I cannot bear your separation.
10. Open the last but one page of the book
11. I solicit your favor to grant me leave
12. Those who are absent, I shall punish them
13. After doing the work, his face brightened.
14. We shall be glad to get your good news.
15. I feel myself feverish.
16. You have no excuse to be forgetful.
17. He rose equal to the occasion
18. Are your work busy ?
19. I am going to a picnic
20. I am a bit in a hurry
21. If one day I am good in English, I would definitely admit it.
22. How do you think to learn the English ?

Các bạn thử sửa lại những câu văn trên cho chuẩn hơn.

NVT
Cây Bút Lạ
Cây Bút Lạ
Bạn thân tình
Bạn thân tình

Tổng số bài gửi : 219
Mỹ Kim : 529
Join date : 07/12/2009

Về Đầu Trang Go down

Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự Empty Tiếng Anh bài 15: cách viết một đoạn văn

Bài gửi by Cây Bút Lạ on Sat Jun 12, 2010 3:58 pm

Một bài báo khoa học thường được viết theo cấu trúc IMRAD (introduction, methods, results, and discussion). Mỗi phần bao gồm một số đoạn văn (paragraphs). Mỗi đoạn văn bao gồm nhiều câu văn (sentence). Một trong những khó khăn mà tôi thấy sinh viên thường gặp lúc viết bài báo khoa học là cách cấu trúc một đoạn văn sao cho dễ đọc và “trôi chảy”. Thật ra, chẳng riêng gì sinh viên, tôi thấy ngay cả những thầy cô vẫn viết văn khoa học rất tồi. Do đó, tưởng là việc dễ làm, nhưng trong thực tế thì không dễ chút nào. Trong bài này tôi sẽ mách một vài kinh nghiệm trong việc cấu trúc một đoạn văn một cách logic và trôi chảy.

Một đoạn văn là một “đơn vị” văn chương của một bài báo khoa học. Điều mà người đọc kì vọng khi đọc một đoạn văn là ý tưởng của người viết và thông tin làm nền tảng cho ý tưởng đó. Nếu người viết không đáp ứng được kì vọng này – như đoạn văn có nhiều ý tưởng, hay không có bằng chứng – thì người đọc sẽ cảm thấy lẫn lộn hay khó chịu, và sẽ không muốn tiếp tục đọc.

Vậy thì câu hỏi đặt ra là: một đoạn văn phải có chức năng gì? Nói một cách ví von, điều mà người đọc muốn tìm trong một đoạn văn khoa học cũng chẳng khác gì chúng ta kì vọng ở một người bạn đời: đó là tinh thần ủng hộ, kiên định, và chu đáo. Một đoạn văn cũng cần có những đặc điểm như thế: có bằng chứng yểm trợ cho ý tưởng, có lập trường kiên định, và phải khúc chiết.

Bằng chứng. Một đoạn văn tốt là một đoạn văn hàm chứa thông tin, và thông tin đó phải có liên quan hay mang tính yểm trợ cho luận án của người viết. Đoạn văn đó cần phải có liên hệ với luận án một cách rõ ràng, sao cho cả thế giới đuều biết được đoạn văn đó có ý định nói lên điều gì.

Kiên định. Một đoạn văn tốt phải mạnh mẽ và có khi trần trụi. Một đoạn văn mạnh mẽ rất cần thiết để phát triển một ý tưởng chính bằng cách dùng đầy đủ bằng chứng. Một đoạn văn tốt không nên có những câu văn thừa thải, những câu văn “gầy gò”, với bằng chứng chẳng có liên quan gì với nhau.

Khúc chiết ở đây có nghĩa là đoạn văn đó phải “hòa hợp” với những đoạn văn khác trong bài báo. Một đoạn văn tốt không bao giờ làm gián đoạn các đoạn văn khác, mà lúc nào cũng có ý tưởng liên quan với một đoạn văn trước đó.

Một đoạn văn bao gồm nhiều câu văn (sentence). Một đoạn văn đơn giản nhất phải có một câu văn chủ đề, và một số câu văn phụ đề. Câu văn chủ đề có mục tiêu “tuyên bố” một ý tưởng hay một quan điểm, còn những câu văn phụ đề có chức năng cung cấp chi tiết và thông tin để làm cơ sở cho câu văn chủ đề. Do đó, một đoạn văn tốt phải hàm chứa những thông tin mang tính khúc chiết và liên kết. Ở đây, tôi không bàn chi tiết về kĩ thuật viết một đoạn văn (vì đã có nhiều sách chỉ dẫn), tôi chỉ muốn chia sẻ kinh nghiệm với bạn đọc một vài điểm chính sau đây:

1. Mỗi đoạn văn chỉ nên nói lên một ý tưởng hay một điểm mà thôi. Khi mới bắt tay vào viết bài báo khoa học, nên tránh kiểu viết một đoạn văn chứa nhiều ý tưởng hay điểm nhỏ. Hãy đọc đoạn văn sau đây:

Muscle length and changes in contractility have been reported to have overlapping effects on the components of excitation-contraction coupling. Muscle length is believed to affect the action potential, the amount of calcium released, and the rise of intracellular calcium …; finally, muscle length affects the interaction between actin and myosin and hence shortening and force development. Changes in contractility are believed to affect the action potential and the level and rise of intracellular calcium.

Trong đoạn văn trên, muscle length và contractility được bàn riêng lẻ thể hiện qua nhiều câu văn nhưng tác giả không nói đến những đặc điểm tương đồng giữa hai khía cạnh này. Những câu văn cũng không trực tiếp minh họa cái mà tác giả gọi là overlapping effect tuyên bố trong câu văn đầu tiên. Ngoài ra, chúng ta cũng không thấy mối liên hệ giữa các câu văn trong đoạn văn trên. Đoạn văn trên có thể biên tập lại cho rõ ràng hơn như sau:

Muscle length and changes in contractility have been reported to have overlapping effects on the components of excitation-contraction coupling. Both affect [Muscle length is believed to affect] the action potential, the amount of calcium released, and the rise of intracellular calcium. In addition [finally], muscle length affects the interaction between actin and myosin and hence affects muscle shortening and force development. [Changes in contractility are believed to affect the action potential and the level and rise of intracellular calcium].

(những chỗ màu xanh là bỏ, cắt đi).

2. Giải thích. Đôi khi, một câu văn cần phải giải thích tại sao có hành động. Mặc dù người viết có thể kì vọng người đọc phải hiểu đề tài, nhưng đôi khi chính người viết phải giúp đỡ người đọc hiểu đề tài bằng cách giải thích rõ ràng hơn.

All of the patient data were kept in paper files. The absence of even one clerk caused delays in the monthly reporting. Finally, management decided to interview some system analysts.

Trong đoạn văn trên, sự nối kết của 3 câu văn không rõ ràng mấy. Dù biết rằng người đọc có thể suy luận được ý nghĩa của đoạn văn, nhưng tại sao chúng ta không viết rõ ràng hơn để người đọc khỏi mất thì giờ? Đoạn văn trên có thể biên tập lại như sau:

All of the patient data were kept in paper files, which took much staff time to maintain. The absence of even one clerk caused delays in the monthly patient reports [reporting]. Management wanted computerized record keeping, which would take less time and be more reliable, and finally, [mnagement] decided to interview some system analysts to develop the new system.

3. Cấu trúc song song. Cần phải cấu trúc đoạn văn song song để dễ đọc. Đọc thử đoạn văn sau đây:

A 10 mg dose produced no affect, a 20 mg dose produced a small effect, but patients demonstrated a noticeable effect from a 30 mg dose.

Chúng ta thấy tác giả cố gắng thay đổi cấu trúc khi nói về ảnh hưởng của liều lượng 30 mg, nhưng cách viết này làm cho câu văn khó hiểu. Có thể viết lại như sau:

A 10 mg dose produced no affect, a 20 mg dose produced a small effect, but a 30 mg dose produced [patients demonstrated] a noticeable effect in patients. [fom a 30 mg dose].

4. Nhất quán trong cách viết. Cần phải duy trì cách viết một cách nhất quán. Nếu dùng thì thụ động trong câu đầu thì phải cố gắng theo cách dùng đó. Chẳng hạn như:

Topical applications of the drug did not improve the condition. The condition improved after small doses were delivered intravenously.

Câu đầu theo thể thụ động (passive voice), nhưng câu thứ hai thì chuyển sang chủ động (active voice). Nên duy trì nhất quán cách viết như sau:

Topical applications of the drug did not improve the condition. Intravenous delivery of small doses improved the condition. [Fhe condition improved after small doses were delivered intravenously].

Để tạm kết thúc bài này, tôi mời các bạn thử đọc một đoạn văn của Gs Samuel Huntington, một tác giả thuộc vào hàng “favorite” của tôi. (Tôi chỉ thích và ngưỡng mộ cách viết của ông ấy thôi, chứ không hẳn thích quan điểm chính trị của ông ấy). Đoạn này tôi trích trong bài “The Hispanic Challenge” đăng trên tập san Foreign Affairs số ra ngày 1/3/2004:

Most Americans see the creed as the crucial element of their national identity. The creed, however, was the product of the distinct Anglo-Protestant culture of the founding settlers. Key elements of that culture include the English language; Christianity; religious commitment; English concepts of the rule of law, including the responsibility of rulers and the rights of individuals; and dissenting Protestant values of individualism, the work ethic, and the belief that humans have the ability and the duty to try to create a heaven on earth, a "city on a hill." Historically, millions of immigrants were attracted to the United States because of this culture and the economic opportunities and political liberties it made possible.

Như có thể thấy, câu đầu tuyên bố chủ đề của đoạn văn về căn cước quốc gia. Câu thứ hai nối kết với câu 1 một cách tuyệt vời về mặt chữ nghĩa. Những câu kế tiếp cung cấp thêm thông tin và dữ liệu yểm trợ cho câu văn đầu tiên. Và, câu cuối cùng quay lại câu chủ đề như là một nhấn mạnh. Một đoạn văn được viết một cách chắc nịch! Đúng là cách viết của một bậc thầy.

Viết đến đây tôi chợt nhớ đến một bậc thầy khác, không phải trong khoa học, mà là trong văn học: Nhà biên khảo Sơn Nam. Trong một cuốn sách mà tôi đọc lâu lắm rồi, trong đó tác giả kể lại rằng có lần Sơn Nam khuyên tác giả về cách viết văn như sau: “Mày viết câu văn phải có bắp thịt. Nghĩa là nó không phẳng lỳ làng nhàng, đọc lên không gây xúc cảm. […] Nói nôm na ra là như cái bắp thịt con chuột của anh nông dân. Văn là phải như thế đó, chớ không phải suông đuột như bắp tay con gái. […] ta phải dùng chữ nào chính xác nhất, đắt giá nhất, độc đáo nhất để diễn đạt cái ý ta muốn diễn đạt. Nghĩa là khi ta dùng chữ đó rồi, không chữ nào thay vào mà hay hơn được. […] Mày hiểu không? Cũng như mày lựa vợ vậy, khi mày đã chấm cô A thì cô B dù có đẹp hơn giàu hơn cũng không làm mày hạnh phúc bằng cô A! Hì hì …”

Tôi nghĩ một lời khuyên như thế trong viết văn khoa học cũng rất thích hợp.

NVT
Cây Bút Lạ
Cây Bút Lạ
Bạn thân tình
Bạn thân tình

Tổng số bài gửi : 219
Mỹ Kim : 529
Join date : 07/12/2009

Về Đầu Trang Go down

Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự Empty Re: Tiếng Anh bài 1. Sử dụng giới tự

Bài gửi by Sponsored content


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết